Hệ thống quang học phức tạp và quan trọng này được ví như “con mắt” của máy ảnh
Ống kính là một hệ thống quang học được cấu tạo bởi nhiều thấu kính hội tu và phân kỳ lắp ghép với nhau, nhằm tạo ra hiệu ứng quang học mong muốn.
Thấu kính được làm từ chất liệu thuỷ tinh đặc biẹt tốt. Sở dĩ người ta phải ghép nhiều thấu kính với nhau là để loại bỏ hiện tượng quang sai (aberration) sinh ra khi tia sáng đi qua một thấu kính hội tụ hay phân kỳ lắp ghép với nhau nên có nhiều loại ống kính máy ảnh với tính năng và tác dụng khác nhau.
 |
| Ống kính AF-28 của Tamron |
Tiêu cự của ống kính là khoảng cách giữa điểm nút ló của ống kính và hình ảnh rõ nét của một vật trên mặt phim khi vật đó ở rất xa máy ảnh (cự ly vô cực). Thông thường người ta quy định ký hiệu tiêu cự bằng chữ F tiếp sau đó là một số đơn vị đo độ dài là milimét. Ví dụ ống kính có tiêu cự bằng 10 cm người ta sẽ viết thông số trên ống kính F = 100mm.
Độ mở của ống kính (thường ký hiệu là f) là trị số quan trọng thứ hai sau độ dài tiêu cự ống kính. Bên trong ống kính có một bộ phận gọi là cửa điều sáng để điều chỉnh ánh sáng đi qua ống kính và thường được làm bằng các lá thép mỏng chồng so le với nhau và ở giữa tạo nên một vòng tròn đồng tâm với các thấu kính. Giá trị f tối đa của ống kính này là trị số của tiêu cự ống kính chia cho đường kính của độ mở tối đa của cửa điều sáng.
Ví dụ ống kính có độ dài tiêu cự là 50mm, đường kính vòng tròn mở tối đa của cửa điều sáng là 35mm vậy ống kính này có trị số f gần bằng 1.4 và thông thường người ta sẽ viết tăts là 50mm f1.4.
Phân loại ống kính
Người ta phân loại ống kính theo độ dài tiêu cự và các hiệu ứng đặc biệt mà nó mang lại. Những loại cơ bản nhất mà tư thường gặp gồm:
ống kính trung bình (Normal): là loại ống kính có độ dài tiêu cự bằng chiều dài của đường chéo khuôn hình chụp . Ví dụ với máy ảnh phim thông thường có kích thước khuôn hình của phim là 24x36mm (thường gọi là phim 35 mm) thì độ dài đường chéo của phim khoảng 45mm. Với máy ảnh có khuôn hình cỡ 6x6cm thì đường chéo khoảng 85mm. Đặc điểm của ống kính này là cho tỷ lệ giữa các vật (không phải cảnh nhìn thấy) trong ảnh gần với tỷ lệ mắt thường nhìn thấy ngoài đời thật. Vì lý do này nên trước đây các máy ảnh phim 35mm đều được các hãng bán với ống kính đi kèm là ống kính tiêu chuẩn/trung bình 50mm.
ống kính góc rộng (Wide): là loại ống kính có tiêu cự nhỏ hơn tiêu cự của ống kính trung bình (45mm) và thường người ta gọi các ống kính từ 35mm trở xuống cho hệ thống máy phim 35mm là ống kính góc rộng. ống kính này có tác dụng thu được hình ảnh ở phía trước rộng hơn so với ống kính trung bình. Nó đặc biệt hữu dụng khi cần chụp toàn cảnh ở gần trước mặt mà không có điều kiện để lùi vè phía sau đủ xa để lấy hết cảnh mong muốn.
ống kính tầm xa (Tele): là những ống kính có tiêu cự lớn hơn tiêu cự trung bình. Ví dụ ống kính có tiêu cự 100mm, 200mm cho phép chụp được hình ảnh các vật ở xa mà giống như được kéo gần lại máy ảnh. ống kính có đặc điểm đặc biệt là phối cảnh của vật chụp giảm có nghĩa những vật ở xa hơn có cùng kích thước cũng có kích cỡ gần bằng chủ thể. Góc chụp của ảnh càng giảm nếu tiêu cự chụp càng dài (ví dụ góc chụp của len 100mm trên hệ phim 35mm là 200 ngang và 140 dọc, len 300mm là 6.50 ngang và 4.3 0 dọc). Vấn đề độ sâu trường ảnh (vùng ảnh nét) cũng giảm tỷ lệ với độ dài của tiêu cự ống kính.
 |
| Nikon AF-S 14-24mm dành cho D3 |
Một cách phân loại khác mà các nhiếp ảnh gia lại rất quan tâm đó là ống kính tiêu cự cố định (Prime lens), ví dụ Nikon AF 50mm f1.4 và ống kính có tiêu cự thay đổi được (ống kính zoom) ví dụ ống kính Nikon AF 80-200mm f2.8 ED. Do chất lượng ống kính zoom đã được cải tiến rất nhiều và độ tiện dụng của nó trong thực tế nên gần đay chủ yếu các ống kính giá rẻ đều là ống kính zoom nhưng với ống kính cao cấp lại là một chuyện khác.
Đến tận những năm cuối của thập ký 80 vừa qua thì ống kính tiêu cự cố định vẫn là những ống kính chủ yếu trên thị trường. Tuy có nhược điểm cố hữu là phạm vị hoạt động rất hẹp, nhưng lại có vô số qu điểm so với ống kính zoom như chế tạo đẽ dàng hơn, giá rẻ hơn, chất lượng ảnh tốt. Việc chế tạo ra những ống kính có tiêu cự thay đổi được (zoom) gần đây đã có nhiều tiến bộ nhờ sự phát triển của công nghệ. Trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều ống kính zoom có chất lượng tốt gần bằng với những ống kính có tiêu cự cố định cùng hạng. Tuy vậy, giá thành zoom cao cấp vẫn rất cao, có thể tới hàng ngàn đô la, vì vậy ống kính cố định vẫn là lựa chọn của những người có “ngân sách” vừa phải.
Người ta còn phân loại ống kính theo những hiệu ứng đặc biệt mà nó mang lại như ống kính “mắt cá” (fisheye) do mặt trước ống kính cong vồng lên như mất cá. Thông thường các ống kính sẽ được chỉnh méo để các đường thẳng bên ngoài được thể hiện trong ảnh cũng là đường thẳng. Nhưng riêng ống kính fisheye lại có hiệu ứng bẻ cong các đường thẳng không đi qua truch dọc và ngang của ảnh. Đây là một trong những ống kính chụp hiệu ứng đặc biệt và trong nhiều trường hợp tạo được ấn tượng mạnh. Thường đây là những ống kính góc siêu rộng. thậm chí tới 1800 cả chiều dọc và ngang cho ống kính Circular Fisheye như Peleng 8mm f3.5, Sigma 8mm f4 EX…
Với mỗi loại ống kính còn có những phiên bản đặc biệt như ống kính có góc siêu rộng (SWA – Super Wide Angle lens 14mm, 15mm, 20mm), ống kính có tiêu cự siêu dài (Super Tele lens 40mm, 500mm, 600mm…), siêu macro với tỷ lệ tới 5:1. Những ống kính chỉnh méo theo mong muốn được dùng trong chụp kiến trúc như Canon TS – E 45mm (Tilt – shift lens), ống kính quản lý được độ mờ của vùng không lấy nét (Nikon DC – Defocus lens), hay ống kính được làm mờ dịu vùng ảnh nét để chuyên chụp chân dung như ống kính Canon 135mm f2 (soft focus) v.v. và v.v…
Ống kính chuyên dụng chụp những vật nhỏ, chụp gần (ống kính chụp macro/Micro – Macro/Micro lens). ống kính này giúp phóng lớn ảnh của vật thể trên phim/bọ cảm biến được chụp ở cự ly gần lên bằng với tỷ lệ ảnh thực của chủ thể ở ngoài đời thực (tỷ lệ 1:1).
Minh Hùng
www.dientutieudung.vn